Đề tự ôn số 5
Đề thi chẩu Cấu trúc đề thi Tốt nghiệp THPT
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Tiếng người hay chỉ tiếng chiêm bao?
Có bao giờ bạn mơ thấy một âm thanh, chỉ một âm thanh thôi không hình ảnh. Đó là khi bạn nghe mơ hồ bên tai như có ai đó đang gọi tên mình “A. ơi”, vừa như ngay bên cạnh vừa như xa xôi lắm. Mơ hồ như là một giấc chiêm bao.
Đó là tiếng “ơi” mà lúc nhỏ tôi hay nghe lắm, có ngày nghe đến hàng chục lần. Có khi bà ngoại gọi “A. ơi về ăn cơm”, có khi nghe cậu bạn thân “A. đi câu cá”, có khi là đứa em trai thì thầm vào tai “A. ơi” khi muốn xin xỏ thứ gì. Nhưng cũng có khi là tiếng kêu “…ơi” của mẹ gọi về phát cho mấy cái đũa bếp vào mông vì cái tội ham chơi.
Đã bao lâu rồi, tôi không được nghe tiếng “ơi” ấy.
Những buổi sớm mai của thời thơ ấu, tôi thường bị đánh thức khi trời còn tờ mờ sương, bởi tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gàu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng. Rồi những âm thanh đến gần hơn. Ngay dưới bếp thôi. Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách. Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách. Và tôi trở mình trong chăn mơ màng ngủ lại giữa chập chùng những tiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ. Chuyện lúa gạo, chuyện học hành, chuyện chiếc xe bò đang bị hỏng cái bánh xe, chuyện một người quen ở xa mới về…Thảng hoặc pha những tiếng cười rất nhẹ. Đó chính là âm thanh mà tôi yêu thích nhất. Tiếng trò chuyện rì rầm ấy, vào buổi ban mai. Cái âm thanh thủ thỉ, vừa xa vừa gần, tin cậy và tràn đầy yêu thương. Nó khiến tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên vô hạn.
Âm thanh đó, đã bao lâu rồi tôi không còn nghe? Những khi nhớ nhà, tôi thường gửi gắm chiếc headphone lên tai và lắng nghe những giọt âm thanh vô cùng trong trẻo của ban nhạc Secret Garden. Thứ âm thanh nhạc thần kì có thể mang lại cho tôi những hồi tưởng thanh bình êm ả. Nhưng nhiều lúc, âm nhạc dù du dương mấy vẫn không đủ cho tôi. Bởi tôi thèm một âm thanh khác. Âm thanh của tiếng nói con người, âm thanh của ai đó đang gọi tên tôi.
[…]
Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chú ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm. Tiếng nói con người dùng để làm gì nếu không phải để thổ lộ, để giãi bày, để xoa dịu. Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị ,với em, với bạn bè…Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “…ơi” dịu dàng.
Một tiếng người thực sự ân cần, yêu thương, quan tâm, gần gũi …Và chắc chắn, không phải là tiếng chiêm bao.
(Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân,
NXB Hội Nhà văn,2017, tr 129,130,131)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo văn bản, những buổi sớm mai của thời thơ ấu, nhân vật “tôi” thường bị đánh thức bởi những âm thanh gì?
Câu 2. Xác định luận đề của văn bản
Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn sau:
“Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chú ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm.”
Câu 4. Nhận xét về cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản.
Câu 5. Nêu nội dung của đoạn văn: “Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị ,với em, với bạn bè…Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “…ơi” dịu dàng” Nội dung đoạn văn đó có ý nghĩa gì với anh/chị?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về cách thức để trở thành một người biết lắng nghe.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/chị viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ sau:
Tự miễn
Hồ Chí Minh
Phiên âm
Một hữu đông hàn tiều tuỵ cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng.
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh kiện cường.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Tự khuyên mình
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Nam Trân dịch, Tuyển tập thơ Hồ Chí Minh
NXB Văn học, 2008, tr.22)
Chú thích:
Tự khuyên mình được viết bằng chữ Hán, là bài thơ thứ 36 trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép, khoảng từ 29/8/1942 đến 10/9/1943.
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 4,0 | |
| 1 | Theo văn bản, những buổi sớm mai của thời thơ ấu, nhân vật tôi thường bị đánh thức bởi những âm thanh: - Tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gầu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng. - Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách. - Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách. -Ttiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ. | 0,5 | |
| 2 | Luận đề của văn bản là: Sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói của con người trong cuộc sống hôm nay. | 0,5 | |
| 3 | - Biện pháp điều cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn “Có phải…” -Tác dụng. + Nhấn mạnh thực tế là con người đang ngày càng ít nói trực tiếp với nhau mà lựa chọn giao tiếp qua YM, tin nhắn… và chúng ta tưởng như vậy là đã hiểu hết về nhau. + Làm cho đoạn văn có giọng điệu đối thoại, tranh luận, các câu văn được liên kết chặt chẽ. + Thể hiện sự trăn trở, suy tư của người viết về thực trạng con người ít giao tiếp với nhau. | 1,0 | |
| 4 | - Cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản: + Văn bản được triển khai thành hai luận điểm: Niềm khao khát được lắng nghe tiếng nói của con người của nhân vật “tôi”; sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói con người. Văn bản có sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; sử dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận. + Văn bản sử dụng các từ ngữ bộc lộ trực tiếp cảm xúc như: tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên; tình thái từ Có phải vậy chăng ? Và chắc chắn không phải là chiêm bao. - Nhận xét: Cách lập luận của văn bản chặt chẽ. Hệ thống luận điểm rõ ràng. Lí lẽ thuyết thuyết phục kết hợp với dẫn chứng cụ thể phù hợp. Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm hiệu quả vừa làm sáng tỏ được luận điểm của văn bản, vừa thể hiện được thái độ của tác giả. | 1,0 | |
| 5 | - Nội dung đoạn văn: Nếu muốn được hiểu, chúng ta cần phải lắng nghe người khác. Nếu muốn được lắng nghe, chúng ta cần phải nói chuyện, phải bày tỏ quan điểm, thái độ. Do vậy cần phải mạnh dạn nói chuyện. -Ý nghĩa: + Giúp ta nhận thức được vai trò và mối quan hệ việc lắng nghe và bày tỏ ý kiến của bản thân trong cuộc sống. + Từ đó có ý thức học cách lắng nghe và nói chuyện để thấu hiểu, yêu thương bản thân và những người xung quanh. | 1,0 | |
| II | VIẾT | 6,0 | |
| 1 | Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về cách thức để trở thành một người biết lắng nghe. | 2,0 | |
| a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. | 0,25 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cách thức để trở thành một người biết lắng nghe. | 0,25 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: Cần rèn luyện sự kiên nhẫn và tập trung tuyệt đối vào người khác đang nói, không để bị phân tâm bởi các yếu tố khác xung quanh; Tôn trọng cảm xúc của người đang nói. Không phán xét, không đánh giá mà nên bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với người nói bằng những lời nói, cử chỉ phù hợp. Một ánh mắt nhìn, một nụ cười, một cái gật đầu cũng đủ để người khác tin rằng mình đang được thấu hiểu; Tránh cắt ngang lời nói, hãy bình tĩnh chờ họ nói xong rồi đưa ra ý kiến của mình. Biết lắng nghe là một kĩ năng quan trọng, cần phải rèn luyện để đạt được hiệu quả giao tiếp, là cơ sở tạo nên mối quan hệ lành mạnh, gắn kết và sự thành công trong cuộc sống. | 0,5 | ||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. - Trình bày rõ quan điểm hệ thống các ý - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng. | 0,5 | ||
| đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn | 0,25 | ||
| e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,25 | ||
| 2 | Phân tích, đánh giá bài thơ Tự miễn ( Tự khuyên mình) của Hồ Chí Minh. | 4,0 | |
| a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học | 0,25 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Phân tích, đánh giá bài thơ Tự miễn ( Tự khuyên mình) của Hồ Chí Minh. | 0,5 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu tác giả, tác phẩm. * Khái quát vấn đề nghị luận: Tự khuyên mình là lời tự nhủ lòng mình, là bức tự hoạ con người tinh thần của người tù Hồ Chí Minh. * Phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ: - Nội dung: Bài thơ là lời tự khuyên mình của người tù Hồ Chí Minh: hoàn cảnh khó khăn gian khổ là tiền đề để có ngày mai tươi sáng nếu con người có ý chí nghị lực. + Hai câu đầu: Nói về quy luật vận động của đất trời: trải qua mùa đông giá rét mới đến ngày xuân ấm áp, huy hoàng. Hình ảnh “đông hàn” (mùa đông lạnh) tượng trưng cho những khó khăn, nghịch cảnh của cuộc sống; “xuân noãn” (mùa xuân ấm áp) tượng trưng cho thành quả ngọt ngào. Mượn quy luật của đất trời để khái quát quy luật của cuộc sống: khi con người trải qua những khó khăn, gian khổ sẽ gặt hái được những thành công, sẽ có hạnh phúc. Tác giả Nam Trân dịch “xuân noãn đích huy hoàng” thành “cảnh huy hoàng ngày xuân” đã làm nổi bật được niềm vui, niềm hạnh phúc,… mà con người được hưởng sau khi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Hai câu thơ là cái nhìn biện chứng về cuộc sống thể hiện niềm tin, lạc quan, yêu đời + Hai câu cuối: Từ quy luật của trời đất, nhân vật trữ tình nghĩ về mình “Tai ương bả ngã lai đoàn luyện” (Tai ương rèn luyện ta). Hoàn cảnh tai ương mà mình gặp phải sẽ rèn luyện để có “Sử ngã tinh thần cánh kiện cường” (Khiến cho tinh thần ta thêm hăng hái). Bản dịch chưa thật sát nghĩa “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng) làm giảm đi sự tác động của hoàn cảnh lên con người. Hai câu thơ thể hiện tinh thần, ý chí vượt lên nghịch cảnh cuộc đời người cộng sản. - Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt; ngôn ngữ chọn lọc, hàm xúc “ý tại ngôn ngoại”; cấu tứ giản dị. Bản dịch được sử dụng thể thơ lục bát, dễ thuộc, dễ nhớ. * Đánh giá: - Bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người tù Hồ Chí Minh – một con người lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng, có ý chí, tinh thần kiên định, coi thường khó khăn gian khổ. Bài thơ không nói chuyện “thép” nhưng vẫn đầy chất “thép” (tinh thần chiến đấu) tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. - Bài thơ truyền cho người đọc lẽ sống tốt đẹp, đó là niềm tin cuộc sống, niềm tin vào cái cao đẹp, vào lí tưởng mà mình theo đuổi; là tinh thần sẵn sàng chấp nhận gian khó, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách. - Mở rộng, so sánh (nếu có): So sánh với các bài thơ khác của Hồ Chí Minh.
| 1,0 | ||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để àm rõ quan điểm cá nhân - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng. Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. | 1,5 | ||
| đ. Diễn đạt Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0,25 | ||
| e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,5 | ||
| Tổng điểm | 10,0 | ||
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 4,0 | |
| 1 | Theo văn bản, những buổi sớm mai của thời thơ ấu, nhân vật tôi thường bị đánh thức bởi những âm thanh: - Tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gầu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng. - Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách. - Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách. -Ttiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ. | 0,5 | |
| 2 | Luận đề của văn bản là: Sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói của con người trong cuộc sống hôm nay. | 0,5 | |
| 3 | - Biện pháp điều cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn “Có phải…” -Tác dụng. + Nhấn mạnh thực tế là con người đang ngày càng ít nói trực tiếp với nhau mà lựa chọn giao tiếp qua YM, tin nhắn… và chúng ta tưởng như vậy là đã hiểu hết về nhau. + Làm cho đoạn văn có giọng điệu đối thoại, tranh luận, các câu văn được liên kết chặt chẽ. + Thể hiện sự trăn trở, suy tư của người viết về thực trạng con người ít giao tiếp với nhau. | 1,0 | |
| 4 | - Cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản: + Văn bản được triển khai thành hai luận điểm: Niềm khao khát được lắng nghe tiếng nói của con người của nhân vật “tôi”; sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói con người. Văn bản có sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; sử dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận. + Văn bản sử dụng các từ ngữ bộc lộ trực tiếp cảm xúc như: tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên; tình thái từ Có phải vậy chăng ? Và chắc chắn không phải là chiêm bao. - Nhận xét: Cách lập luận của văn bản chặt chẽ. Hệ thống luận điểm rõ ràng. Lí lẽ thuyết thuyết phục kết hợp với dẫn chứng cụ thể phù hợp. Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm hiệu quả vừa làm sáng tỏ được luận điểm của văn bản, vừa thể hiện được thái độ của tác giả. | 1,0 | |
| 5 | - Nội dung đoạn văn: Nếu muốn được hiểu, chúng ta cần phải lắng nghe người khác. Nếu muốn được lắng nghe, chúng ta cần phải nói chuyện, phải bày tỏ quan điểm, thái độ. Do vậy cần phải mạnh dạn nói chuyện. -Ý nghĩa: + Giúp ta nhận thức được vai trò và mối quan hệ việc lắng nghe và bày tỏ ý kiến của bản thân trong cuộc sống. + Từ đó có ý thức học cách lắng nghe và nói chuyện để thấu hiểu, yêu thương bản thân và những người xung quanh. | 1,0 | |
| II | VIẾT | 6,0 | |
| 1 | Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về cách thức để trở thành một người biết lắng nghe. | 2,0 | |
| a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. | 0,25 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cách thức để trở thành một người biết lắng nghe. | 0,25 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: Cần rèn luyện sự kiên nhẫn và tập trung tuyệt đối vào người khác đang nói, không để bị phân tâm bởi các yếu tố khác xung quanh; Tôn trọng cảm xúc của người đang nói. Không phán xét, không đánh giá mà nên bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với người nói bằng những lời nói, cử chỉ phù hợp. Một ánh mắt nhìn, một nụ cười, một cái gật đầu cũng đủ để người khác tin rằng mình đang được thấu hiểu; Tránh cắt ngang lời nói, hãy bình tĩnh chờ họ nói xong rồi đưa ra ý kiến của mình. Biết lắng nghe là một kĩ năng quan trọng, cần phải rèn luyện để đạt được hiệu quả giao tiếp, là cơ sở tạo nên mối quan hệ lành mạnh, gắn kết và sự thành công trong cuộc sống. | 0,5 | ||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. - Trình bày rõ quan điểm hệ thống các ý - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng. | 0,5 | ||
| đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn | 0,25 | ||
| e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,25 | ||
| 2 | Phân tích, đánh giá bài thơ Tự miễn ( Tự khuyên mình) của Hồ Chí Minh. | 4,0 | |
| a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học | 0,25 | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Phân tích, đánh giá bài thơ Tự miễn ( Tự khuyên mình) của Hồ Chí Minh. | 0,5 | ||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu tác giả, tác phẩm. * Khái quát vấn đề nghị luận: Tự khuyên mình là lời tự nhủ lòng mình, là bức tự hoạ con người tinh thần của người tù Hồ Chí Minh. * Phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ: - Nội dung: Bài thơ là lời tự khuyên mình của người tù Hồ Chí Minh: hoàn cảnh khó khăn gian khổ là tiền đề để có ngày mai tươi sáng nếu con người có ý chí nghị lực. + Hai câu đầu: Nói về quy luật vận động của đất trời: trải qua mùa đông giá rét mới đến ngày xuân ấm áp, huy hoàng. Hình ảnh “đông hàn” (mùa đông lạnh) tượng trưng cho những khó khăn, nghịch cảnh của cuộc sống; “xuân noãn” (mùa xuân ấm áp) tượng trưng cho thành quả ngọt ngào. Mượn quy luật của đất trời để khái quát quy luật của cuộc sống: khi con người trải qua những khó khăn, gian khổ sẽ gặt hái được những thành công, sẽ có hạnh phúc. Tác giả Nam Trân dịch “xuân noãn đích huy hoàng” thành “cảnh huy hoàng ngày xuân” đã làm nổi bật được niềm vui, niềm hạnh phúc,… mà con người được hưởng sau khi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Hai câu thơ là cái nhìn biện chứng về cuộc sống thể hiện niềm tin, lạc quan, yêu đời + Hai câu cuối: Từ quy luật của trời đất, nhân vật trữ tình nghĩ về mình “Tai ương bả ngã lai đoàn luyện” (Tai ương rèn luyện ta). Hoàn cảnh tai ương mà mình gặp phải sẽ rèn luyện để có “Sử ngã tinh thần cánh kiện cường” (Khiến cho tinh thần ta thêm hăng hái). Bản dịch chưa thật sát nghĩa “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng) làm giảm đi sự tác động của hoàn cảnh lên con người. Hai câu thơ thể hiện tinh thần, ý chí vượt lên nghịch cảnh cuộc đời người cộng sản. - Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt; ngôn ngữ chọn lọc, hàm xúc “ý tại ngôn ngoại”; cấu tứ giản dị. Bản dịch được sử dụng thể thơ lục bát, dễ thuộc, dễ nhớ. * Đánh giá: - Bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người tù Hồ Chí Minh – một con người lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng, có ý chí, tinh thần kiên định, coi thường khó khăn gian khổ. Bài thơ không nói chuyện “thép” nhưng vẫn đầy chất “thép” (tinh thần chiến đấu) tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. - Bài thơ truyền cho người đọc lẽ sống tốt đẹp, đó là niềm tin cuộc sống, niềm tin vào cái cao đẹp, vào lí tưởng mà mình theo đuổi; là tinh thần sẵn sàng chấp nhận gian khó, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách. - Mở rộng, so sánh (nếu có): So sánh với các bài thơ khác của Hồ Chí Minh.
| 1,0 | ||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để àm rõ quan điểm cá nhân - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng. Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. | 1,5 | ||
| đ. Diễn đạt Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0,25 | ||
| e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0,5 | ||
| Tổng điểm | 10,0 | ||