Đề thi Văn chuyên vào lớp 10 ở Hà Nội
Đề thi lớp 10 chuyên Văn của Hà Nội yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về "ánh sáng riêng bên trong mỗi người".
Đề thi lớp 10 chuyên Văn của Hà Nội yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về "ánh sáng riêng bên trong mỗi người".
Đề thi Ngữ văn vào lớp 10 cho thấy tinh thần "chống văn mẫu", hay nhất là của Hà Nội, TP HCM và Hải Phòng, nhưng còn có đề đưa câu hỏi chưa phù hợp, theo Tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn
Đề thi lớp 10 chuyên Văn của Hà Nội yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về "ánh sáng riêng bên trong mỗi người".
THỂ LOẠI: THƠ
1. Thuật ngữ
Thơ là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại, được xác đinh ra đời cùng lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật thời nguyên thủy (nhà thơ ban đầu gọi là “tự nhân” - người trông coi việc cúng thờ, tế lễ). Người phương Tây, cội nguồn của từ thơ - “poet” (Hi Lạp) có nghĩa là sản xuất, sáng tạo, chuyển vào thơ, nghĩa là “sáng tạo trên lĩnh vực từ ngữ”. Hegel trong Mĩ học viết: “Lời thơ nảy sinh vào thời xa xưa của mỗi dân tộc, lúc đó ngôn ngữ còn chưa hình thành, phải nhờ có thơ ca ngôn ngữ mới phát triển được”. Từ đó có thể thấy thơ ca là sản phẩm của nhận thức, tưởng tượng và sáng tạo, thông qua đó mà ngôn từ được phát triển.
2. Phân loại
2.1. Thơ Haikư (Nhật Bản)
* Thể thơ
- Hai cư là một thể thơ truyền thống độc đáo của Nhật Bản (thi quốc), được hình thành từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ XVII có những thành tựu nổi bật.
- Hình thức: thơ Hai - cư thuộc loại ngắn nhất thế giới (cả bài chỉ 17 âm tiết, ngắt thành 3 đoạn 5-7-5). Nguyên bản tiếng Nhật chỉ có một câu thơ.
+ Dòng 1: Giới thiệu.
+ Dòng 2: Tiếp tục ý trên và chuẩn bị cho dòng 3.
+ Dòng 3: Ý thơ kết lại nhưng không rõ ràng, mở ra những suy ngẫm, cảm xúc cho người đọc ngân nga, lan tỏa.
* Nội dung
- Phản ánh tâm hồn người Nhật - tâm hồn ưa thích hòa nhập với thiên nhiên, vì vậy nội dung thường hướng đên một phong cảnh, một vài sự vật cụ thể, một tứ thơ, một cảm xúc, một suy tư… của người viết. Tứ thơ khơi gợi xúc cảm, suy tư trong một khoảnh khắc hiện tại (quy tắc sử dụng "quý ngữ”)
2.2. Thơ Đường luật
- Khái niệm thơ Đường luật: Thơ Đường luật hay còn gọi là thơ cận thể, là thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ thời Đường ở Trung Quốc.
- Một số đặc trưng cơ bản:
+ Cảm hứng chủ đạo:
v Thơ u hoài về thế sự, nặng niềm ưu tư xã hội, đó là cảm hứng của nhà Nho.
v Hướng về tư tưởng Ðạo giáo yêu thiên nhiên, thích xa lánh việc đời, tư tưởng Lão Trang
v Hướng về Phật giáo, xa lánh đời nhưng vẫn còn gần nhân thế
+ Bố cục: Đề - Thực - Luận - Kết: Bố cục giao nhiệm vụ cho mỗi phần; Khai - Thừa - Chuyển - Hợp: Chỉ ra mối quan hệ liên tục giữa bốn phần
+ Luật: Là cách sắp đặt tiếng bằng, tiếng trắc trong các câu của một bài thơ. Luật được bắt đầu bằng âm thanh của chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ thứ hai là thanh bằng (thanh huyền, không dấu) thì gọi bài thơ luật bằng. Chữ thứ hai là thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng), thì gọi là bài thơ luật trắc.
+ Niêm: Niêm là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ hai của hai câu cùng theo một luật, hoặc là cùng bằng hoặ cùng trắc, bằng niêm bằng, trắc niêm trắc.
+ Đối: Đối là đặt hai câu đi song đôi cho ý với chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau (Đối tương phản hoặc tương hỗ). Đối ý là tìm hai câu có ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu song nhau. Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là B - T, T - B, vừa phải đối loại của chữ nghĩa, hai chữ tương tự loại (cùng danh, cùng động,…).
+ Vần - Vận: Vần (Chữ Nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau. Thơ Ðường luật chỉ gieo một vần là vần bằng (bình), hiếm khi gieo vần trắc. Gieo vần vào chữ cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8. (ngoại lệ: riêng chữ cuối của câu 1 ngũ ngôn bát cú có thể không cần gieo vần cũng được.
2.3. Thơ Nôm Đường luật
Thơ Nôm Đường Luật là những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể Đường luật (gồm cả những bài thơ theo thể Đường luật hoàn chỉnh và cả những bài theo thể Đường luật phá cách có 5 chữ hoặc 6 chữ). Có thể nói thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam.
Thơ Nôm Đường luật là sự kết hợp hài hòa giữa “yếu tố Nôm” và “yếu tố Đường luật”. Hai yếu tố này đan xen vào nhau tạo nên giá trị của từng tác phẩm thơ Nôm Đường luật. Mỗi yếu tố có giá trị biểu đạt, biểu cảm và thẩm mỹ khác nhau nhưng cũng có tính độc lập tương đối, có thể tách rời nhau để xác định đặc trưng thể loại.
Nội dung của thơ Nôm đường luật rất phong phú, đa dạng phản ánh trung thực, toàn diện về đời sống xã hội và tình cảm của con người qua các đề tài như: thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn…
Đặc điểm nghệ thuật của thơ Nôm đường luật: Yếu tố nôm là những gì thuộc về dân tộc dân dã và bình dị, trong khi đó yếu tố đường luật là những gì tiếp thu từ nước ngoài tao nhã, ước lệ.
2.4. Thơ mới
Thơ mới là cách gọi trào lưu sáng tác thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng các phép tắc tu từ, thanh vần của thơ hiện đại phương Tây. Trở thành một hiện tượng trong khu vực các nước đồng văn châu Á, thơ mới ra đời, phát triển dựa trên yêu cầu cấp thiết hiện đại hóa thi ca truyền thống.
Một vài đặc điểm chính
+ Giải phóng triệt để khỏi các phép tắc tu từ, thanh vần chặt chẽ của các thể loại thơ truyền thống, thậm chí có sự xuất hiện và phát triển mạnh của thể loại thơ tự do, thơ không vần, thơ cấu trúc theo bậc thang,...
+ Số lượng câu thường không bị giới hạn như các bài thơ truyền thống.
+ Ngôn ngữ bình thường trong đời sống hàng ngày được nâng lên thành ngôn từ nghệ thuật trong thơ, không còn cấu trúc bởi việc sử dụng điển cố văn học.
+ Nội dung đa diện, phức tạp, không bị gò ép trong những đề tài phong hoa tuyết nguyệt kinh điển.
+ Chịu ảnh hưởng của các trào lưu, khung hướng hiện đại trong thơ ca phương Tây như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa ấn tượng, duy hiện đại,…
2.5. Thơ hiện đại
Thơ hiện đại là một dòng thơ được phát triển trong thời kì sau Thế chiến II tại Việt Nam. Nó là hình thức thơ mới, có những đặc điểm riêng biệt, khác với thơ truyền thống, đây là thể loại thơ được viết bằng ngôn ngữ đời thường, phóng khoáng và linh hoạt hơn, không cần tuân thủ các quy tắc chặt chẽ về độ dài, đơn vị vần, trọng âm, hoặc nhịp điệu. Thơ hiện đại cùng với thơ tự do là hai dòng thơ chủ yếu trong nền văn học hiện đại. Tuy nhiên, thơ hiện đại không chỉ đơn thuần là sự tự do trong kỹ thuật viết thơ mà còn phản ánh thái độ, tâm trạng và nhận thức của con người đương thời đối với cuộc sống và xã hội.
Đặc điểm của thơ hiện đại
Thơ hiện đại là một dòng thơ được tạo ra sau thế chiến II với những đặc điểm riêng :
1. Tự do trong sáng tạo, không bị ràng buộc bởi các quy tắc về thể thơ và văn phong.
2. Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, tự nhiên và hiện đại, phản ánh cuộc sống hiện đại và những vấn đề xã hội đương thời.
3. Sử dụng các tình huống, hình ảnh và ký hiệu trực quan để gợi lên cảm xúc và tác động đến người đọc.
4. Tự do trong cách thức trình bày, không bị ràng buộc bởi các khuôn mẫu truyền thống.
5. Tính cá nhân hóa cao, thể hiện cá tính và quan điểm riêng của tác giả.
Truy cập hàng ngàn bộ đề thi, bài văn mẫu được biên soạn sát với chương trình giáo dục phổ thông mới nhất.
Dành cho giáo viên. Bạn cần có tài khoản giáo viên
Kho tài liệu tham khảo với nhiều bài văn hay, dàn ý chi tiết và cách triển khai ý tưởng hiệu quả.
Thực hành viết theo chuyên đề, nâng cao kỹ năng diễn đạt và hoàn thiện bài viết mỗi ngày.
Tài liệu chọn lọc – Học đúng trọng tâm – Ôn tập hiệu quả.
Đề thi lớp 10 chuyên Văn của Hà Nội yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về "ánh sáng riêng bên trong mỗi người".
Đề thi Ngữ văn vào lớp 10 cho thấy tinh thần "chống văn mẫu", hay nhất là của Hà Nội, TP HCM và Hải Phòng, nhưng còn có đề đưa câu hỏi chưa phù hợp, theo Tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn
Nếu biết cách đặt câu hỏi và khai thác, các ứng dụng AI có thể đóng vai trò như một gia sư.
Bảo Châu và Quỳnh Anh giành điểm 9,5 điểm môn Văn, cao nhất trong hơn 76.000 thí sinh thi lớp 10 công lập ở TP HCM năm nay.